Cùng nhau học tiếng nhật

いざしらず

Cấu trúc

いざしらず  không biết N thì sao, chứ…
[Nはいざしらず]

Ví dụ:

むかしはいざしらず、いま会社かいしゃを10も大実業家だいじつぎょうかだ。
     Không biết hồi xưa thì sao, chứ bây giờ ông ta là một nhà kinh doanh cỡ lớn, có trong tay đến 10 công ti.

両親りょうしんはいざしらず、我々われわれ兄弟きょうだいとしていもうと結婚けっこんゆるすわけにはいかない。
     Về phần cha mẹ tôi thì chưa biết sao, chứ anh em chúng tôi thì không thể nào chấp nhận chuyện hôn nhân của em gái mình được.

幼稚園ようちえん子供こどもならいざしらず、大学生だいがくせいにもなって洗濯せんたくもできないとはおどろいた。
     Nếu còn là trẻ mẫu giáo, thì không nói làm gì, chứ đã là sinh viên đại học rồi mà không biết giặt giũ thì thật là không thể tưởng tượng nổi.

ひまときだったらいざしらず、こんなにいそがしいときにきゃく長居ながいされてはたまらない。
     Gặp lúc rảnh thì không biết sao, chứ những lúc bận như thế này mà bị ai đó đến ngồi dây dưa trò chuyện thì thật là khó chịu.

国内旅行こくないりょこうならいざしらず、海外旅行かいがいりょこうくとなると、準備じゅんび大変たいへんだ。
    Đi du lịch trong nước thì không biết sao, chứ gặp trường hợp đi du lịch nước ngoài thì phải chuẩn bị vất vả.

Ghi chú:

+ Diễn đạt ý nghĩa “… thì không biết sao” hoặc “… thì sao cũng được”, thông qua các ngữ đoạn có dùng những từ như 「は」、「なら」、「だったら」kèm sau một danh từ. Ở đây có sự đối chiếu giữa hai phần trước và sau của câu, như giữa “xưa” và “nay”, “trẻ mẫu giáo” và “sinh viên đại học”, “lúc rảnh” và “lúc bận”.

+ Dùng trong trường hợp sự việc diễn tả ở phần sau của câu quan trọng hơn hoặc ở mức độ cao hơn, hoặc mang một ý nghĩa đặc biệt, so với sự việc diễn tả ở phần trước. Ở phần sau, thường dùng những từ ngữ biểu thị sự ngạc nhiên hoặc vất vả v.v… Ví dụ (1) là lối nói có tính thành ngữ, nghĩa là “khác với hồi xưa”.

Được đóng lại.