Cùng nhau học tiếng nhật

のに ( Mẫu 1 )

Cấu trúc

のに 

[N/Na なのに]  [A-い/A-かった  のに]  [V-る/V-た  のに]

Cấu trúc 1

のに

Đi sau một mệnh đề, và được dùng với dạng thức 「XのにY」. Với dạng thức này, nó diễn tả ý nghĩa “dù X, nhưng lại không đưa tới kết quả đương nhiên được dự đoán dựa trên X, mà lại đưa tới một kết quả hoàn toàn ngược lại là Y”. X và Y phải biểu thị những sự thật được xác định rõ ràng, nên trong Y không thể dùng những cách nói mà sự thật chưa được xác định rõ, ví dụ như nghi vấn, mệnh lệnh, yêu cầu, khuyến dụ, ý chí, hi vọng, suy đoán, V.V.
(sai)雨が降っているのに出かけな さい。
(sai)雨が降っているのに出かけたい。
(sai)雨が降っているのに出かける だろう。

A…のに < nguyên nhân nghịch > … vậy mà / mặc dù…

Ví dụ

① 5がつなのに真夏まなつのようにあつい。
  Đang là tháng 5, mà trời nóng như đang giữa mùa hè.

② いえちかいのによく遅刻ちこくする。
  Nhà gần, vậy mà thường tới trễ.

③ あめっているのにかけていった。
  Trời đang mưa, vậy mà đã ra đi rồi.

④ 真夜中過まよなかすぎたのにまだかえってこない。
  Đã quá nửa đêm rồi, vậy mà vẫn chưa về đến nhà.

⑤ 今日きょう日曜日にちようびなのに会社かいしゃくんですか。
  Hôm nay là chủ nhật, vậy mà anh cũng đi làm à ?

⑥ 5がつなのになんでこんなにあついんだろう。
  Đang là tháng 5, mà sao lại nóng như thế này nhỉ.

Ghi chú:

+ Đây là cách dùng trong trường hợp mối quan hệ nhân – quả giữa X và Y trong mẫu câu 「XのにY」, chưa được thành lập.
Trong ví dụ (3), nó diễn tả rằng: không hình thành mối quan hệ nhân – quả thông thường “đã không ra đi, vì lúc ấy trời đang mưa”, mà lại hình thành một sự việc ngược lại. Phần nhiều có kèm theo tâm trạng hoài nghi hay bất ngờ của người nói đối với sự mâu thuẫn và kết quả ngoài dự đoán này.
+ Câu (6) là dạng để hỏi nguyên nhân về một hiện trạng ngoài dự đoán, và cũng diễn tả tâm trạng bất ngờ hay hoài nghi.
+ Câu (5) là câu nghi vấn, nhưng lại là trường hợp có thể dùng 「のに」. Lí do là vì, trong câu (5) ý định đi làm là một sự thật rõ ràng, và người nói, vì ngạc nhiên đối với sự 「日曜日なのに会社に行く」, nên mới dùng mẫu nghi vấn 「のですか」 để hỏi về sự việc đó.
+ Như vậy, nếu không gắn 「のだ」 vào cuối câu, khi muốn hỏi rằng “đi làm hay không”, như câu nghi vấn dưới đây, thì sẽ không được tự nhiên.
(sai) 今日は日曜日なのに会社に行きますか。

B …のに < đối tỉ / đối chọi > …vậy mà

Ví dụ

① 昨日きのうはいい天気てんきだったのに今日きょうあめだ。
  Hôm qua thì trời tốt, vậy mà hôm nay trời lại mưa.

② あの中国人ちゅうごくじん日本語にほんごはあまり上手じょうずでないのに、英語えいごはうまい。
  Người Trung Quốc đó, tiếng Nhật thì không giỏi lắm, vậy mà tiếng Anh lại rất cừ.

③ おにいさんはよく勉強べんきょうするのにおとうと授業じゅぎょうをよくサボる。
  Người anh thì chăm học, vậy mà cậu em lại hay trốn học.

Ghi chú:

Cách dùng này không diễn tả mối quan hệ nhân – quả giữa X và Y, mà diễn tả mối quan hệ “đối chọi”.
Ví dụ câu (2) là câu nối hai thuộc tính X và Y có mối quan hệ trái ngược nhau là 「日本語が上手でない」 Và 「英語がうまい」, và không phải là câu có mối quan hệ nhân – quả như 「あの中国人は日本語が上手でないので英語がうまい」 .
「のに」 trong trường hợp này có thể thay bằng 「けれども」 hay 「が」 ; nhưng 「けれども」 và 「が」 chỉ diễn tả mối quan hệ đối chọi thuần tuý, trong khi đó 「のに」 lại hàm chứa một sự dị biệt nhỏ rằng “sự liên kết giữa X và Y trái với dự đoán thông thường, nên người nói cảm thấy 「あかしい、変だ」(lạ/ kì).
(Vd) あの中国人は日本語はあまり上手でない{けれども/か}、英語はうまい。 Người Trung Quốc đó tiếng Nhật thì không giỏi lắm, nhưng tiếng Anh thì rất cừ.

C…のに < bất ngờ > … vậy mà

Ví dụ

① 合格ごうかくするとおもっていたのに、不合格ふごうかくだった。
  Tưởng rằng đậu, thế mà lại rớt.

② 今晩中こんばんちゅう電話でんわするつもりだったのに、うっかりわすれてしまった。
  Đã định gọi điện thoại nội trong đêm nay, vậy mà lại quên mất.

③ 和子かずこさんにはてほしかったのに、てくれなかった。
  Tôi đã mong cô Kazuko tới, vậy mà cô ta lại không tới cho.

④ せっかくおいでくださったのに、もうわけございませんでした。
  Anh đã vất vả tới cho, (vậy mà tôi lại vắng nhà), xin thứ lỗi.

Ghi chú:

Diễn tả ý nghĩa “đã dự đoán sai, đã có kết quả bất ngờ”.
Trong các câu từ (1) đến (3), ở vế X, người ta thường dùng những cách nói diễn tả sự dự đoán, ý định, hy vọng, ví dụ như 「…と思っていた」, 「つもりだった」, 「来てほしかった」, rồi sau đó trong vế Y người ta nêu ra một kết quả ngươc lại với sự dự đoán, ý định, hy vọng đó .
Trong câu (4) 「せっかくお出でくださったのに、(留守にしていて)申し訳ございません」, phần ở trong ngoặc () là phần biểu thị kết quả, lại bị hiểu ngầm, cho nên nối kết trực tiếp ở phía sau là một câu nói diễn tả tâm trạng xin lỗi đối với cái kết quả không được mong muốn đó.

Cấu trúc 2

…のに < vị trí ở cuối câu > … thế mà …/… mà lại … /… vậy mà …

Ví dụ

① スピードをすから事故じここしたんだ。ゆっくりはしれとっておいたのに。
  Tại phóng nhanh, nên mới gây ra tai nạn. Tôi đã dặn trước rằng hãy chạy chậm, mà lại …

② 絶対来ぜったいくるとあんなにかた約束やくそくしたのに。
  Đã hứa chắc rằng thế nào cũng tới, thế mà .

③ もっとはや出発しゅっぱつすればよかったのに。
  Phải chi khởi hành sớm hơn thì hay quá, thế mà .

④ あなたもればいいのに。
  Nếu anh cũng tới thì hay biết bao…

⑤ あと5秒早びょうはやければ始発電車しはつでんしゃったのに。
  Nếu sớm 5 giây thôi, thì đã kịp chuyến xe điện đầu tiên rồi, vậy mà …

Ghi chú:

Dùng ở cuối câu, để diễn tả tâm trạng hối tiếc, vì kết quả hoàn toàn ngược lại với dự đoán. Thường được dùng trong trường hợp muốn biểu lộ sự bất mãn, hay chỉ trích đối với hành vi của những người không phải là người nói. Cũng thường dùng ở cuối “câu điều kiện trái sự thực”, ví dụ như (5).

Cấu trúc 3

せっかく…のに→ tham khảo【せっかく】5

Cấu trúc 4

Nでも…のに ( Ngay cả N còn …, vậy thì )

Ví dụ

① 電気屋でんきやでもなおせないのに、あなたになおせるはずがないじゃないの。
  Ngay cả thợ điện còn không sửa được, vậy thì lẽ nào anh sửa được cơ chứ.

② 九州きゅうしゅうでもこんなにさむいのに、まして北海道ほっかいどうはどんなにさむいだろう。
  Ngay cả Kyushu còn lạnh như thế này, vậy thì Hokkaido không biết còn lạnh đến cỡ nào.

③ こんな簡単かんたん問題もんだい小学生しょうがくせいでもけるのに、どうして間違まちがえたりしたの?
  Một bài toán đơn giản như thế này, đến cả học sinh tiểu học còn giải được, vậy thì tại sao cậu lại làm sai cơ chứ ?

Ghi chú:

Diễn tả sự triển khai lập luận rằng “nếu là N thì tôi cho rằng có khả năng như thế, vậy mà còn dẫn tới một kết quả trái ngược (nếu là thợ điện thì tôi cho rằng có thể sửa được, vậy mà còn không sửa được). Đến cả N mà còn như thế, thì một kẻ có năng lực kém hơn N, phải càng “như thế” hơn, (cậu là một người không chuyên nghiệp thì lại càng khó sửa hơn)”.

Được đóng lại.