Cùng nhau học tiếng nhật

[ Từ Điển Mẫu Câu Tiếng Nhật ] のに ( Mẫu 1 )

Cấu trúc

のに 

[N/Na なのに]  [A-い/A-かった  のに]  [V-る/V-た  のに]

Cấu trúc 1

のに

Đi sau một mệnh đề, và được dùng với dạng thức 「XのにY」. Với dạng thức này, nó diễn tả ý nghĩa “dù X, nhưng lại không đưa tới kết quả đương nhiên được dự đoán dựa trên X, mà lại đưa tới một kết quả hoàn toàn ngược lại là Y”. X và Y phải biểu thị những sự thật được xác định rõ ràng, nên trong Y không thể dùng những cách nói mà sự thật chưa được xác định rõ, ví dụ như nghi vấn, mệnh lệnh, yêu cầu, khuyến dụ, ý chí, hi vọng, suy đoán, V.V.
(sai)雨が降っているのに出かけな さい。
(sai)雨が降っているのに出かけたい。
(sai)雨が降っているのに出かける だろう。

A…のに < nguyên nhân nghịch > … vậy mà / mặc dù…

Ví dụ

Đây là nội dung dành cho thành viên JPOONLINE

Một số nội dung chỉ dành cho thành viên trả phí

Hãy đăng nhập để đọc trọn bài học

Ghi chú:

+ Đây là cách dùng trong trường hợp mối quan hệ nhân – quả giữa X và Y trong mẫu câu 「XのにY」, chưa được thành lập.
Trong ví dụ (3), nó diễn tả rằng: không hình thành mối quan hệ nhân – quả thông thường “đã không ra đi, vì lúc ấy trời đang mưa”, mà lại hình thành một sự việc ngược lại. Phần nhiều có kèm theo tâm trạng hoài nghi hay bất ngờ của người nói đối với sự mâu thuẫn và kết quả ngoài dự đoán này.
+ Câu (6) là dạng để hỏi nguyên nhân về một hiện trạng ngoài dự đoán, và cũng diễn tả tâm trạng bất ngờ hay hoài nghi.
+ Câu (5) là câu nghi vấn, nhưng lại là trường hợp có thể dùng 「のに」. Lí do là vì, trong câu (5) ý định đi làm là một sự thật rõ ràng, và người nói, vì ngạc nhiên đối với sự 「日曜日なのに会社に行く」, nên mới dùng mẫu nghi vấn 「のですか」 để hỏi về sự việc đó.
+ Như vậy, nếu không gắn 「のだ」 vào cuối câu, khi muốn hỏi rằng “đi làm hay không”, như câu nghi vấn dưới đây, thì sẽ không được tự nhiên.
(sai) 今日は日曜日なのに会社に行きますか。

B …のに < đối tỉ / đối chọi > …vậy mà

Ví dụ

Đây là nội dung dành cho thành viên JPOONLINE

Một số nội dung chỉ dành cho thành viên trả phí

Hãy đăng nhập để đọc trọn bài học

Ghi chú:

Cách dùng này không diễn tả mối quan hệ nhân – quả giữa X và Y, mà diễn tả mối quan hệ “đối chọi”.
Ví dụ câu (2) là câu nối hai thuộc tính X và Y có mối quan hệ trái ngược nhau là 「日本語が上手でない」 Và 「英語がうまい」, và không phải là câu có mối quan hệ nhân – quả như 「あの中国人は日本語が上手でないので英語がうまい」 .
「のに」 trong trường hợp này có thể thay bằng 「けれども」 hay 「が」 ; nhưng 「けれども」 và 「が」 chỉ diễn tả mối quan hệ đối chọi thuần tuý, trong khi đó 「のに」 lại hàm chứa một sự dị biệt nhỏ rằng “sự liên kết giữa X và Y trái với dự đoán thông thường, nên người nói cảm thấy 「あかしい、変だ」(lạ/ kì).
(Vd) あの中国人は日本語はあまり上手でない{けれども/か}、英語はうまい。 Người Trung Quốc đó tiếng Nhật thì không giỏi lắm, nhưng tiếng Anh thì rất cừ.

C…のに < bất ngờ > … vậy mà

Ví dụ

Đây là nội dung dành cho thành viên JPOONLINE

Một số nội dung chỉ dành cho thành viên trả phí

Hãy đăng nhập để đọc trọn bài học

Ghi chú:

Diễn tả ý nghĩa “đã dự đoán sai, đã có kết quả bất ngờ”.
Trong các câu từ (1) đến (3), ở vế X, người ta thường dùng những cách nói diễn tả sự dự đoán, ý định, hy vọng, ví dụ như 「…と思っていた」, 「つもりだった」, 「来てほしかった」, rồi sau đó trong vế Y người ta nêu ra một kết quả ngươc lại với sự dự đoán, ý định, hy vọng đó .
Trong câu (4) 「せっかくお出でくださったのに、(留守にしていて)申し訳ございません」, phần ở trong ngoặc () là phần biểu thị kết quả, lại bị hiểu ngầm, cho nên nối kết trực tiếp ở phía sau là một câu nói diễn tả tâm trạng xin lỗi đối với cái kết quả không được mong muốn đó.

Cấu trúc 2

…のに < vị trí ở cuối câu > … thế mà …/… mà lại … /… vậy mà …

Ví dụ

Đây là nội dung dành cho thành viên JPOONLINE

Một số nội dung chỉ dành cho thành viên trả phí

Hãy đăng nhập để đọc trọn bài học

Ghi chú:

Dùng ở cuối câu, để diễn tả tâm trạng hối tiếc, vì kết quả hoàn toàn ngược lại với dự đoán. Thường được dùng trong trường hợp muốn biểu lộ sự bất mãn, hay chỉ trích đối với hành vi của những người không phải là người nói. Cũng thường dùng ở cuối “câu điều kiện trái sự thực”, ví dụ như (5).

Cấu trúc 3

せっかく…のに→ tham khảo【せっかく】5

Cấu trúc 4

Nでも…のに ( Ngay cả N còn …, vậy thì )

Ví dụ

Đây là nội dung dành cho thành viên JPOONLINE

Một số nội dung chỉ dành cho thành viên trả phí

Hãy đăng nhập để đọc trọn bài học

Ghi chú:

Diễn tả sự triển khai lập luận rằng “nếu là N thì tôi cho rằng có khả năng như thế, vậy mà còn dẫn tới một kết quả trái ngược (nếu là thợ điện thì tôi cho rằng có thể sửa được, vậy mà còn không sửa được). Đến cả N mà còn như thế, thì một kẻ có năng lực kém hơn N, phải càng “như thế” hơn, (cậu là một người không chuyên nghiệp thì lại càng khó sửa hơn)”.

Được đóng lại.